Category: Văn hóa

MV “Bình yên Quy Nhơn” – Điểm hẹn tình yêu

Năm 1985, tỉnh Nghĩa Bình cũ (nay là 2 tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi) mời 3 nhà thơ – nhạc sĩ gồm: Văn Cao, Nguyễn Trọng Tạo và Nguyễn Thụy Kha vào tham gia trại sáng tác ở Quy Nhơn. Chính trong đợt đi này, nhạc phẩm “Quy Nhơn – Thành phố thi ca” của nhạc sĩ Thụy Kha đã ra đời.


BÌNH YÊN QUY NHƠN – Nhạc sỹ Thuỵ Kha – Ca sĩ Bằng Kiều

Ngay trong lần đầu đặt chân đến, Quy Nhơn đã chiếm tình cảm của nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha, ông chia sẻ: Mọi thứ ở đây đều quá mới mẻ và đặc biệt, với tôi Quy Nhơn rất đẹp. Khi tôi chuyển ca khúc vừa mới sáng tác cho nhà thơ – nhạc sĩ đàn anh là Văn Cao xem thử và góp ý, anh ấy bảo: Bài hát của cậu đã cho thấy một Quy Nhơn tuyệt vời, nên mình sẽ không sáng tác nhạc về Quy Nhơn, mình sẽ làm thơ.

Những năm sau này, nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha có nhiều dịp trở lại và ông rất hạnh phúc khi Quy Nhơn – Thành phố thi ca của ông vẫn được người dân Quy Nhơn ngân nga hát. Gần đây, nhạc sĩ Thụy Kha và ca sĩ Bằng Kiều đã tình cờ gặp nhau tại Quy Nhơn và duyên may khiến họ hội ngộ với doanh nhân Nguyễn Đình Trung – một người con Bình Định thành đạt và rất yêu quê nhà. Ông Trung ngỏ lời muốn ca sĩ Bằng Kiều trình diễn “Quy Nhơn – Thành phố thi ca” để công chúng biết đến Quy Nhơn nhiều hơn. 

Từ cuộc trò chuyện ấy, nhạc sĩ Thụy Kha đã quyết định đổi tên ca khúc “Quy Nhơn thành phố thi ca” thành “Bình yên Quy Nhơn”. Chia sẻ với tôi, nhạc sĩ bày tỏ: “Qua bao năm tháng, Quy Nhơn trong tôi giờ đây còn đẹp hơn, hiện đại hơn, nhưng sự bình yên vẫn còn đó. Tôi hy vọng qua phần thể hiện của ca sĩ Bằng Kiều, ca khúc này sẽ được nhiều người biết đến hơn nữa. Và nếu ai chưa đến Quy Nhơn, hãy đến đây một lần để cảm nhận được sự tươi đẹp, sự bình yên của nơi đây, như tôi từng cảm nhận”.

Về phía doanh nhân Nguyễn Đình Trung, ông cũng dành nhiều tâm tư, tình cảm về thành phố này: “Tôi là người Bình Định, khi còn thanh niên, tôi yêu Quy Nhơn bởi những câu hát “đất Quy Nhơn gầy đón chân chàng đến” trong bài thơ của Hàn Mặc Tử. Thú thật, Quy Nhơn gầy thế nào thì tôi khó lý giải hết, nhưng có lẽ bởi địa thế lưng tựa núi, mặt hướng biển khiến Quy Nhơn “gầy” nhưng rất đẹp. Những ca khúc viết về Quy Nhơn luôn gắn bó với một thời tuổi trẻ bình yên của tôi với vùng đất này. Trong lần gặp gỡ, anh Thụy Kha muốn đổi bài hát thành “Bình yên Quy Nhơn”, cả tôi và Bằng Kiều ủng hộ ngay. “Quy Nhơn thành phố thi ca” ngày ấy hay “Bình yên Quy Nhơn” bây giờ đều toát lên nét đẹp kiều diễm của Quy Nhơn mà không phải ở đâu cũng có được”.

Ca khúc “Bình yên Quy Nhơn” bây giờ như một mối lương duyên của những con người, dẫu công việc khác nhau, nhưng đều có một điểm rất chung, đó là tình yêu quá đỗi mà họ đã dành cho Quy Nhơn.                      

AN NGUYÊN (Nguồn Hung Thinh Corp)




Thành phố trong nhịp đập của ký ức

Ảnh: quynhonnice.com

Tôi đã xa Quy Nhơn hơn hai mươi năm. Mỗi khi nhớ về, ký ức thường lang thang qua từng con phố rồi bất chợt ưu tư trước chiếc lá vàng mơ báo hiệu sự chuyển mùa rơi nhẹ nhàng trước gió. Biển vẫn ngàn năm tự tình, từng con sóng vỗ vào bờ mang theo vị mặn biển cả… Bốn năm học và những lần trở lại vội vã thăm bạn bè nhưng đã in sâu trong tâm hồn tôi những kỷ niệm dẫu năm tháng đi qua, dẫu cuộc sống thêm nhiều lo toan, nhiều điều phải nghĩ ngợi.

Tôi đã từng hỏi, có điều gì mà khiến mình quyến luyến với thành phổ biển này? Khi xa nó thì mình sẽ nhớ gì nhất? Thời gian của một thời tuổi trẻ gắn bó với Quy Nhơn không dài nhưng có lẽ đó là thời kỳ đẹp nhất, lắm đam mê và thành công nhất, ít ra với một con người hay sống bằng hoài niệm và chắt chiu những tình cảm yêu thương của bạn bè như tôi.

TP Quy Nhơn về đêm (Ảnh Lê Hồ Bắc)
TP Quy Nhơn về đêm (Ảnh Lê Hồ Bắc)

Tôi nhớ Quy Nhơn của những hàng cây phượng trên đường Trần Phú, những hàng xà cừ trên  đường Lê Hồng Phong, con đường Tăng Bạt Hổ cắt ngang dẫn về sạp báo, hiệu sách cũ. Tôi đã cùng bạn bè lóc cóc xe đạp đến thư viện tỉnh, ngồi trên những băng ghế đá đầy rêu dưới tán cây xanh đọc từng trang tiểu thuyết. Nhiều con phố ở Quy Nhơn đều hẹp, nhưng mát rượi bởi những bóng cây. Con đường Nguyễn Huệ về phía trường Trưng Vương mơn man gió. Ghé vào quán nước nghỉ chân, nhìn ngắm dòng xe qua lại trong giờ tan tầm hối hả, lòng tịnh yên, không lo nghĩ điều gì.

Tôi nhớ Quy Nhơn những đêm đứng trước biển. Ngọn đèn trên con thuyền đánh cá nhấp nhô ngoài khơi kể cho tôi nghe nhiều điều về sự mưu sinh đầy nguy hiểm. Dọc bãi cát dài, mơn man từng con sóng, rì rầm trong hơi thở của đất trời là niềm tin về tình yêu thiên nhiên, về sự bao dung của biển cả. Tôi đã thuộc nhiều bài hát về biển, về ánh trăng ngà in trên biển những đêm trời trong. Đi dạo cùng nhóm bạn, một người bạn quê xứ biển kể về biển quê hương, tấm lưới cũ rách mà cha bạn vá đã mấy lần trong mùa đánh bắt, cái thúng bung vành mà mẹ bạn vẫn còn nách đến chợ ngày phiên… Tôi yêu Quy Nhơn, yêu biển biếc nhưng lắm xót xa khi biển nổi cuồng phong.

Tôi trở lại Quy Nhơn rất tình cờ trong lần nhập học của con trai. Nó ngơ ngác trước một nơi xa lạ và sẽ dần quen  trong bốn năm đại học như ba nó từng. Tôi nghĩ mình sẽ cung cấp cho con một số vốn liếng về thành phố biển ở miền Trung không mấy sôi động, đông đúc này nhưng rồi lại phải nhờ con trai đưa đi dạo. Thật sự, giữa hai thế hệ luôn có một khoảng cách và quan niệm đứng trước một điều gì đó. Sự tìm hiểu, khám phá của lớp trẻ dường như nhanh nhạy và thời sự hơn nhiều.

Quy Nhơn bây giờ đổi thay nhiều quá, nhiều khu du lịch sinh thái, nhiều nhà hàng khách sạn mọc lên đáp ứng nhu cầu du lịch. Những con đường cũ được nới rộng, nhiều con đường mới hình thành làm cho thành phố rộng hơn, khang trang hơn. Buổi chiều chạy xe ra quảng trường qua đại lộ Nguyễn Tất Thành mà ngỡ ngàng khi biết rằng dấu xưa hoàn toàn bị xóa vết, ấy là đường băng cũ, hai bên cỏ mọc um tùm, phía biển là một vòng cung, gọi là eo Nín Thở cũng không còn hiện hữu mà thay vào đấy là con đường Xuân Diệu chạy dọc bờ biển, hân hoan đón từng cơn gió mát căng đầy lồng ngực.

Sự phát triển của một đô thị là hệ quả tất yếu của hội nhập. Con người trực tiếp hưởng thụ điều ấy, dĩ nhiên rất vui và từng ngày từng giờ hăng say cống hiến. Vẫn còn đó những gì đã có cách đây hai mươi năm, ấy là quán cà phê cóc, ông già sửa xe đạp đầu hẻm, cô chủ tiệm photocopy hay bà bán bánh mì… Tôi đã gặp lại họ và cũng đã nhận ra tôi. Tôi rất vui, và cứ thế kỷ niệm ùa về làm cay khóe mắt.

Làm sao quên được ông già sửa xe đạp chịu cho tôi nợ một ngàn, bà bán bánh mì bảo cháu cứ ăn đi hôm sau có tiền thì trả khi cuối tháng, trong túi tôi không còn đồng nào. Rồi cô chủ tiệm photo thì sẵn sàng bớt vài đồng trong số tiền đáng lý nhận đủ khi tôi photo tài liệu…

Vậy đấy, những kỷ niệm ở Quy Nhơn làm sao tôi quên được!

Tạp bút của  SƠN TRẦN

Nguồn: http://www.baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=18&macmp=20&mabb=92729

Trong tĩnh lặng giữa thiên nhiên

Ảnh: Lê Hồ Bắc

* Tạp bút của MẫU ĐƠN

Chúng tôi thường đến với rừng núi vào buổi chiều. Những buổi chiều im ắng đến nỗi tôi có thể nghe được tiếng gì đó của mặt đất, của sóng và bầu trời. Trong từng hơi thở. Từ núi Vũng Chua ghé chân sang Quy Hòa và lạc bước vào vùng thơ mộng, đầy sương khói.

Ảnh: Lê Hồ Bắc
Ảnh: Lê Hồ Bắc

Ở Quy Hòa một chiều yên ả, chúng tôi tình cờ thấy một người đàn bà. Bà ngồi nhặt những cành hoa sứ. Kết lại để bán. Cái tĩnh lặng đó làm người ta yên lành, không cần giải thích. Cái im lặng của trời, khiến ta lặng lẽ hơn trong từng bước đi, để biết rằng mình cần nhiều hơn nữa sự nghỉ ngơi, yên tĩnh.

Khi ra ngoại ô Quy Nhơn, nhìn đồng lúa, nhìn những rì rào tĩnh lặng, tôi nghĩ có phải chúng ta vẫn thích ngồi ở góc của những con đường đông đúc, những ngã tư, ngã năm để nghĩ, để yêu thương một cái gì đấy chăng.

Chúng tôi đi cùng nhau dưới con dốc của tuổi trẻ, đi lên và đi xuống. Chính con đường lên Vũng Chua đã cho tôi nhiều hơn những ý tưởng. Chỉ cần hít hương thơm cay cay và nồng ấm tỏa ra từ rừng núi, chúng tôi cảm giác mình có thể an lành. Đi đến những nơi vắng người, chỉ có những hàng cây mọc nối tiếp, một vài bông hoa nở vội, những đợi chờ được an ủi. Thật thế, những khi thiên nhiên mỉm cười, nở từ thân một chiếc lá mới, mọc ra từ cành một hương thơm, đó là điều kỳ diệu, mà nhìn vào đó ta có thể thấy được nhiều hơn một bầu trời, nhiều hơn một cái ôm và xoa vai. Thở nhẹ trong màn sương, trong chút yêu chiều của trời đất. Đi nhẹ và nghĩ thử xem ta đã làm gì, đúng sai thế nào.

Từ thẳm sâu mặt đất và bầu trời, con người không hẳn đang đơn côi, nhưng con người cần một chút đơn côi, để lắng lại và nghe. Nghe mọi thứ, và nghe từ mình. Nghe từ hương thơm lá cây, nghe món quà của mặt đất, nghe tình cây cỏ. Một cánh chuồn chuồn mỏng tang, một chiếc lá mọc khang khác, một loài hoa vừa chào đời và bay đi những hạt giống…

Tất cả đang chuyển động trong từng giờ khắc. Bằng cái nhìn êm ái, thiên nhiên đang chờ đợi ta, và ôm ta vào lòng. Hỡi con người mềm yếu. Vòng tay của ngàn hoa, ngàn cây thương quý nhau biết chừng nào.

M.Ð

Nguồn: http://www.baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=18&macmp=20&mabb=95688

Võ Bình Ðịnh trong hành trình kiến tạo bản sắc

Luyện võ Bình Định - Ảnh Lê Hồ Bắc

Từ hành trang văn hóa của nhiều luồng dân cư khác nhau, võ Bình Ðịnh hình thành và phát triển. Võ là văn hóa, đồng thời là phương thức ứng xử của người Bình Ðịnh trước tự nhiên và xã hội, qua đó xác lập cho địa phương một bản sắc riêng trong suốt chiều dài lịch sử. Quá trình kiến tạo bản sắc Ðất Võ không phải là một con đường thẳng, mà trải qua nhiều biến đổi và chuyển dịch để sàng lọc và định vị.

Từ “võ nhà” thành “võ vùng”

Vào thời kỳ trước phong trào Tây Sơn, ở Bình Ðịnh đã có các sân hoặc phòng tập võ tại tư gia của các võ sư hoặc võ sinh. Các sân tập này còn riêng lẻ, chỉ đáp ứng nhu cầu luyện tập của một nhóm người có quan hệ đồng tộc, đồng môn chứ không mang tính cộng đồng. Chỉ khi phong trào nông dân Tây Sơn nổ ra, tập hợp các võ phái đơn lẻ và cả những người chưa hề biết võ dưới một ngọn cờ, mở những bãi tập lớn để luyện quân, thì phong trào học võ, luyện võ mới đại chúng hóa một cách rộng rãi.

  Lão võ sư Phan Thọ - Ảnh: Đào Tiến Đạt
Lão võ sư Phan Thọ – Ảnh: Đào Tiến Đạt

Môi trường thao luyện đó chính là võ đàn lý tưởng để các võ nhân giao lưu và học hỏi, đồng thời cũng là môi trường sáng tạo và đại chúng hóa các dòng võ, đưa võ của mỗi dòng họ ra khỏi khung cửa một nhà, thâm nhập vào quần chúng thành võ của một vùng. Ba tiếng “võ Tây Sơn” mặc dù gắn với một địa danh cụ thể là ấp Tây Sơn, nhưng nó biểu đạt khái niệm võ vùng: Võ thuật chủ đạo của cả phủ Quy Nhơn thời Tây Sơn đều gọi là võ Tây Sơn.

Từ “võ vùng” thành “võ quốc gia”

Khởi nghĩa thành công, các lãnh tụ áo vải của phong trào trở thành vương tướng. Trong khi Nguyễn Nhạc với vai trò hoàng đế lo xây dựng kinh thành, củng cố triều đình thì các bộ phận tướng lĩnh dẫn quân vào Nam chặn Nguyễn, ra Bắc diệt Trịnh. Yêu cầu quan trọng hàng đầu lúc bấy giờ là bảo vệ nhà nước Tây Sơn. Võ Tây Sơn phải vừa tiếp tục đại chúng hóa để tạo nền móng vững chắc, vừa chính quy hóa để nâng cao độ tinh nhuệ của đội quân nhà nước, do vậy nó không ngừng mở rộng, trở nên lớn mạnh và thu hút hơn bao giờ hết.

Luyện võ Bình Định - Ảnh Lê Hồ Bắc
Luyện võ Bình Định – Ảnh Lê Hồ Bắc

Thời bấy giờ, người luyện võ Tây Sơn không chỉ có dân ấp Tây Sơn hay phủ Quy Nhơn, mà là một đội ngũ trùng điệp đến từ mọi miền đất nước, như Nguyễn Trọng Trì ghi chép trong Tây Sơn lương tướng ngoại truyện: “Ngô Văn Sở Tây Sơn Thanh Hóa nhân hữu dũng lực” (Ngô Văn Sở đời Tây Sơn, người Thanh Hóa, có sức mạnh), hay “Tả quân đô đốc danh Văn Nhậm tính võ thị Quảng Nam nhân, bản Nam hà hào kiệt” (Tả quân đô đốc, tên là Nhậm, họ Võ, người Quảng Nam, vốn hào kiệt Nam hà)…

Từ võ vùng, võ Tây Sơn đã vươn lên gánh vác sứ mệnh tiêu diệt thù trong giặc ngoài, đặc biệt là cuộc chiến thắng quân Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút và chiến thắng quân Thanh ở trận Ðống Ða. Võ Tây Sơn gắn liền với chiến lược chiến thuật quân sự của Quang Trung – Nguyễn Huệ, góp phần làm nên biểu tượng bách chiến bách thắng, lưu lại cùng các chiến công oanh liệt trong lịch sử.

Tuy nhiên, nói tới sự biến đổi từ võ vùng thành võ quốc gia ở đây là sự mở rộng phạm vi, đối tượng, chứ không có nghĩa là bác học hóa hay đại trà hóa làm thay đổi bản chất võ Tây Sơn. Nền tảng của võ thuật Tây Sơn vẫn là các làng võ ở phủ Quy Nhơn, do vậy mặc dù triều Tây Sơn sụp đổ, võ Tây Sơn vẫn được duy trì và lưu truyền từ đời này sang đời khác.

Bổ sung và củng cố nền móng võ dân gian

Tương truyền, các bài võ tiêu biểu của Bình Ðịnh được chế tác bởi các tướng lĩnh xuất thân dân dã như Nguyễn Lữ với Hùng kê quyền, Nguyễn Huệ với Nghiêm thương, Bùi Thị Xuân với Song phượng kiếm.

Tham gia sáng tạo ra các ngón võ, các bài võ để đời của Bình Ðịnh không chỉ có các tướng lĩnh nổi tiếng, mà còn có nhiều người áo vải chân đất. Chàng Lía khi còn là một trẻ chăn trâu trên cánh đồng Phú Lạc đã tự tập miếng võ Cá lóc, về sau phát triển thành môn khinh công thượng thặng. Một thương gia người Việt gốc Hoa tên Lý Hùng, cụ tổ dòng võ họ Lý đất An Nhơn, sau nhiều ngày quan sát tư thế mèo rửa mặt để tự chế bài quyền Miêu tẩy diện. Thời chống Pháp, theo yêu cầu của quân khu kháng chiến, võ sư Hà Trọng Sơn đã cùng nhóm võ sư Bình Ðịnh khổ công nghiên cứu các bài võ cổ truyền, rút ra 12 miếng võ lợi hại làm thành bài Kiếm mười haiđể luyện cho du kích… Quá trình phát triển của võ Bình Ðịnh từ trước đến nay phản ánh một thực tế rằng nó không ngừng được sáng tạo và bổ sung bởi các thế hệ người Bình Ðịnh.

Qua các thời kỳ lịch sử, võ Bình Ðịnh đã từng thăng hoa hoặc trầm lắng, từng được khuyến khích và cũng từng bị giám sát, kìm hãm, thậm chí bị cấm đoán nghiêm ngặt như thời kỳ hậu Tây Sơn và thời kỳ chống Pháp. Trong hoàn cảnh bị dồn nén, dòng chảy của võ vẫn đảm bảo tính liên tục bởi ý chí và nhu cầu mãnh liệt của chủ thể. Dù lắng thành mạch ngầm với phương thức truyền dạy bí mật thời hậu Tây Sơn hay trỗi dậy một cách quyết liệt tìm kiếm vũ khí và hình thức thực hành thích hợp để chống thực dân xâm lược Pháp cuối thời Nguyễn, võ Bình Ðịnh không ngừng được sáng tạo và mài giũa. Bằng chứng là ngay sau khi triều Nguyễn bỏ “cấm vận” với võ Bình Ðịnh, thì người Bình Ðịnh liên tục đăng quang tiến sĩ võ. Trong cuốn Võ cử và các võ tiến sĩ ở nước ta, nhà nghiên cứu Nguyễn Thúy Nga cho biết dưới triều Nguyễn “có 10 người đỗ Võ tiến sĩ và 110 người đỗ Võ phó bảng… Tất cả 10 Võ tiến sĩ này đều có quê từ Quảng Bình trở vào… Bình Ðịnh có 2 người”. Tên 2 vị Võ tiến sĩ Bình Ðịnh là Nguyễn Văn Tứ (đỗ khoa năm Tự Ðức thứ 18 – 1865) và Ðặng Ðức Tuấn (đỗ khoa năm Tự Ðức thứ 22 – 1869).

Ðất Bình Ðịnh còn truyền tụng về hai “thí sinh” làm rúng động trường thi võ thời Nguyễn. Người thứ nhất là cụ Trung Quân, người làng Thọ Lộc, huyện Bình Khê, ra Huế thi cử nhân võ dưới thời Thiệu Trị, một mình lần lượt đấu thắng 9 thí sinh có điểm cao nhất, giành ngôi thủ khoa. Người thứ hai là Bầu Ðê, người Tuy Phước, không đi thi “vì không luyện tập những môn bắt buộc mà ông cho là vô ích” nhưng kỳ thi nào ở Bình Ðịnh cũng xách roi tới trường thi xin ban giám khảo cho đấu với thủ khoa, khiến cho vị chánh chủ khảo tên Lãnh – một tạo sĩ (tiến sĩ võ) trường Thừa Thiên ngày trước, là một cây roi trường có tiếng – tò mò thỉnh giáo. Sách Võ nhân Bình Địnhcủa Quách Tấn – Quách Giao chép: “Quan lớn cởi áo dài, cầm roi xuống sân đề nghị Bầu Ðê đấu mươi hiệp”. Ngay sau hiệp đầu tiên, “quan Lãnh cầm ngang cây trường tiên, cúi đầu vái ông Bầu Ðê nói lớn: Thật là cây roi thần. Thật đáng bậc tôn sư!”.

Tiếp nối Trung Quân, Bầu Ðê là Ðội Sẻ, Hồ Ngạnh, Nguyễn Ngạc, Ðinh Hề… những đại danh của nền võ dân gian Bình Ðịnh thời kỳ chống Pháp đầu thế kỷ XX, một thế hệ noi gương Mai Xuân Thưởng, Võ Trứ trong cuộc cách mạng võ khí.

Việc chuyển từ thập bát ban võ nghệ sang côn quyền chính là bước chuyển dịch khôn ngoan nhằm đối phó nguy cơ đứt gãy văn hóa uy hiếp đời sống võ thuật Bình Ðịnh trong bối cảnh đất nước bị xâm lược. Về thực chất, đây là sự chọn lựa phương thức chiến đấu trong thế trận đối đầu với đại địch vừa có vũ khí tối tân hơn ta vừa nắm quyền áp đảo về mặt chính trị. Các làng võ danh tiếng (roi Thuận Truyền, quyền An Vinh, quyền An Thái) ra đời đầu thế kỷ XX, chính là hệ quả của các ảnh hưởng địa – lịch sử, địa – chính trị lên vùng đất này.

Nhìn từ góc độ văn hóa, đó là quá trình “diễn nghĩa” võ Bình Ðịnh dưới một lớp vỏ mới để định vị, một xu hướng thích nghi sáng tạo của cộng đồng Bình Ðịnh nhằm duy trì bản sắc.

Xu hướng sân khấu hóa để lưu giữ di sản

Trong đời sống hòa bình, chức năng chiến đấu của võ tạm thời lắng xuống, thay vào đó võ biểu diễn được khai thác và phát huy trong các nghi lễ, phong tục và lễ hội để phục vụ nhu cầu tinh thần của cộng đồng, đó là nguyên nhân dẫn đến xu hướng sân khấu hóa ngày càng mạnh đối với võ Bình Ðịnh.

Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, Nhà nước đã nhanh chóng nắm bắt và khuyến khích xu hướng này, thậm chí đẩy mạnh việc kiến tạo bản sắc văn hóa địa phương thông qua võ Bình Ðịnh, đầu tư xây dựng võ thành một giá trị di sản để vừa bồi đắp truyền thống vừa khai thác kinh tế du lịch. Ðiều này thể hiện rất rõ qua lễ hội. Các chương trình võ thuật dưới hình thức sân khấu hóa trong các lễ hội Bình Ðịnh ngày nay là sự tái hiện đan xen lịch sử mở đất và lịch sử đấu tranh xã hội mà võ thuật vừa là phương tiện vừa là cứu cánh.

Tiếp nhận điệp trùng ân huệ và thử thách từ một dải đất lưng tựa vào núi, mặt hướng ra biển, quá trình chinh phục tự nhiên của người Bình Ðịnh là chặng khởi đầu đầy tráng khí còn in hằn trong các thế võ đẫm chất sử thi của các lễ hội, đặc biệt là lễ hội cầu ngư của cư dân vùng duyên hải. Nếu như võ trong các lễ hội tôn vinh nhiên thần phản ảnh quá trình chinh phục tự nhiên của người Bình Ðịnh, thì võ trong các lễ hội lịch sử phản ánh và ngợi ca truyền thống giữ nước của cộng đồng. Về phương diện này, võ thuật đã được huy động một cách đắc lực để tái hiện lịch sử, đúng hơn là để diễn đạt phương thức sống còn và tạo lập bản lĩnh dân tộc, sẵn sàng đối phó và đập tan mọi giấc mộng xâm lăng của ngoại bang. Các lễ hội dân gian truyền thống và hiện đại của Bình Ðịnh vừa thể hiện ước mơ muôn thuở của cộng đồng về sự ấm no, hưng thịnh và khát vọng chinh phục mọi trở lực để phát triển; vừa là những khung cửa để ta quan sát vừa là sự lắng đọng, bồi đắp và biến đổi của văn hóa võ Bình Ðịnh trong sự vận động không ngừng, ở những không gian và thời gian khác nhau.

Trước những tương tác của lịch sử và thời đại, các yếu tố thể hiện bản sắc của miền Ðất Võ Bình Ðịnh không thể không có những biến đổi, thậm chí là bắt buộc phải thay đổi để thích ứng và tồn tại, như chúng ta đã thấy trong võ khí, trong hình thức chiến đấu, hình thức bảo tồn… Tuy nhiên, về cơ bản, truyền thống thượng võ vẫn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong phương vị tinh thần của người Bình Ðịnh xưa nay.

Trần Thị Huyền Trang

Nguồn: http://www.baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=59&macmp=59&mabb=86421